Bằng chứng về hồn ma có tồn tại

Mời các bạn đọc ngay câu chuyện này để có thể biết về những bằng chứng chứng minh việc có hồn ma tồn tại, đây là sự thật và không hề xuyện tạc

Nhiều công nhân, và cả gia đình họ,người bị chết, người mơ thấy ma, người thì đột nhiên bị ngã bệnh sau khi những công nhân này thi công một đoạn sông Tô Lịch. Ông Nguyễn Hùng Cường kể, trước khi thi công, tôi có mời ông Phạm Ngọc Anh – kỹ sư thủy lợi – làm chuyên viên kỹ thuật. Ngay ngày đầu tiên đi khảo sát thực địa, ông Anh phát hiện một ngôi đền rất lớn ở bờ sông phía An Phú – đền Quán Đời có từ đời Lý. Ông Anh nói luôn: “Cậu không nên nhận thi công đoạn sông này. Nguy hiểm lắm. Tôi ân hận vì đã không nghe lời khuyên”. Ngày 15/8/2001, tôi vừa làm lễ trong đền Quán Đời, vừa cho máy xúc, máy ủi xuống bờ sông khởi công. Vừa thắp được mấy nén hương, tự nhiên lửa trong mấy nén hương cứ bùng lên cháy rực, đồng thời tự nhiên ngực tôi đau buốt. Mãi mới vẩy được lửa, cắm lên bát hương thì ngoài công trường báo về có sự cố. Vái vội mấy vái, tôi chạy ra. Thì ra ngoài công trường, sau khi đắp đê bơm nước ra, anh em phát hiện rất nhiều cọc gỗ lim đóng theo những hàng ngắn, bố trí rất lạ. Tháng 6/2007, Công ty Liên doanh Xây dựng VIC trùng thầu gói thầu 07 dự án cải tạo hệ thống thoát nước Hà Nội (CPTA). Công việc cụ thể là nạo vét và kè đá bờ sông Tô Lịch. Tác giả bài này là ông Nguyễn Hùng Cường – đội trưởng đội xây dựng số 12 trực tiếp chỉ huy thi công đoạn sông qua làng An Phú, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Cũng là vô sư vô sách, tôi chỉ huy cho máy nhổ cọc lên. Máy vừa nhổ được hai chiếc cọc, tự nhiên như có một lực gì đẩy, chiếc máy xúc từ từ trôi xuống sông, đồng thời đê ngăn nước vỡ, nước tràn vào ngập kín chiếc máy xúc. Cũng gần như cùng lúc ấy có tiếng người hét lên. Trong đống bùn mà máy xúc đã xúc lên bờ có lẫn rất nhiều xương người, xương thú vật, đồ gốm, đồ sắt, đồ đồng như bát đĩa, dao, liềm, kim khâu, tiền đồng, tiền cổ. Biết là gặp chuyện chẳng lành, tôi cho dừng thi công, và yêu cầu công nhân hom tất cả đồ cổ, xương người lại và báo với Bảo tàng Hà Nội. Ông Phạm Kim Ngọc, Giám đốc Bảo tàng Hà Nội, và nhiều nhà khoa học đến hiện trường thu nhặt cổ vật mang về bảo tàng. Tối hôm đó, anh Hùng, người lái máy xúc nhổ cọc, đang khỏe mạnh vừa về đến nhà chợt lên cơn động kinh, mắt trợn, miện sủi bọt mép, người cứ quay tròn như gà bị cắt tiết. Cả nhà anh Hùng biết có sự lạ, sắm lễ ra bờ sông vừa khóc vừa lễ. Lễ xong, đốt vàng mã được một nửa thì điện thoại ở nhà báo tin Hùng đã tỉnh lại. Không biết làm cách nào, nghe bạn mè mách, tôi phóng xe đi Hải Phòng mời một thầy pháp nổi tiếng về trừ tà. Vừa nói chuyện với thầy, tự nhiên thầy trừng mắt: “Này, chỗ ấy âm khí nặng nề, sức tôi không trừ được”. Nằn nì mãi thầy mới về Hà Nội mà cũng chỉ dám làm lễ cầu an ở bờ sông và về Hải Phòng ngay đêm đó. Mấy ngày sau, Bảo tàng Hà Nội tổ chức một hội thảo khoa học, hội tụ rất nhiều nhà khoa học cả về sử học, bảo tàng, tâm linh. Kết luận của giáo sư Trần Quốc Vượng được chấp nhận, đây là trận đồ bát quái yểm trấn giữ cửa thành Đại La từ thế kỷ IX. Giáo sư cũng đề cập đến lực lượng âm binh tại đây và dặn tôi phải cẩn thận kẻo ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng công nhân. Tôi cùng anh em công nhân thu nhặt hết xương người liệm vào tiểu và chôn ở bờ sông, hàng ngày cắt cử người hương khói. Nhưng công việc không tiến triển được. Cứ đắp lên, đê lại vỡ. Anh em công nhân ở công trường luôn mơ thấy ma quỷ và thường gặp tai nạn lao động. Vét được chút bùn nào lên, cũng thấy kèm theo xương người, có khi cả đầu lâu. Chúng tôi liệm hết vào tiểu đem chôn gần đó. Một mặt đổi mới kỹ thuật thi công, mặt khác tôi vẫn tiếp tục mời thầy cúng trừ tà giải hạn. Nhưng tất cả các thầy bắc, nam đều bất lực. Công nhân toàn nằm mơ thấy những người mặt áo the, khăn xếp đánh đuổi không cho nằm. Nhiều người không dám ở lại Anh Thương (quê Nghệ An) ngủ ở lán công trường đêm nào cũng mơ thấy một bà cụ hiện lên nắm tóc đuổi đi và nói: “Đây không phải là chỗ kiếm ăn của mày, về quê mà sống”. Anh Thương không chịu bỏ đi mà còn khuyên nhiều công nhân ở lại làm. Được ba hôm, vợ anh làm cấp dưỡng cho công nhân bị bỏng độ 3 toàn thân. Sợ quá anh đưa vợ đi bệnh viện và bỏ việc luôn. Đến tháng 11/2001, tôi mời được thượng tọa Thích Viên Thành ở Chùa Hương về làm lễ cúng cho tôi ở hiện trường. Vừa đến hiện trường, thầy ngồi xuống nhắm mắt niệm phật. Niệm một lúc thầy đứng lên nói. Đây là trận đồ trấn yểm rất nguy hiểm. Sau đó thầy lập đàn tràng ở bờ sông hóa giải trấn yểm. Lễ xong, thầy Thích Viên Thành nói với mọi người: “Thầy đã cố gắng hóa giải nhưng anh em phải cẩn thận. Còn anh Cường phải chịu nhiều hậu quả, gia đình, anh em con cháu cũng gặp họa”. Rồi buồn buồn thầy nói: “Vì cái đàn tràng này, tính mạng thầy cũng khó giữ”. Ba tháng sau, thầy Thích Viên Thành hóa. Các đệ tự nói trước khi mất thầy còn nói thầy mấy vì trận đồ trấn yểm ở Sông Tô Lịch. Nhưng công việc cũng không tiến triển được. Đê đắp lên là vỡ, kè thép không vỡ thì nước xói từ dưới lên. Đặt đá xuống thì đá chìm nghỉm. Để kiểm tra địa tầng tìm kiếm biện pháp thi công mới, tôi thuê một dàn khoan thăm dò đến khoan mấy mũi. Dàn khoan dựng ở giữa sông, đội khoan hạ mũi khoan. Lạ thay cứ hạ mũi khoan xuống một đoạn là mũi khoan lại gãy. Ba lần như vậy, họ lẳng lặng tháo dàn khoan đi mất, không đòi tiền. Công nhân vẫn hoang mang vô cùng. Anh Hoàn (quê Ninh Bình) – làm đốc công – có hôm vừa dẫm chân lên đầu cột gỗ thì ở quê nhắn lên bố anh ốm thập tử nhất sinh. Mẹ anh Nguyễn Văn Nông – thủ kho và là người thu lượm các hài cốt và di vật – bị tai biến mạch máu não. Sau khi thầy Thích Viên Thành làm lễ hóa giải yểm trừ, anh Trần Văn Lợi – người Bắc Giang – nhảy xuống lòng sông vét bùn. Vừa lên bờ tắm rửa xong thì nghe tin nhà ở quê bị cháy rụi, một đứa cháu rất thân với anh đột ngột chết. Các công nhân sợ hãi nghỉ việc cả. Chiều chiều đứng bên bờ sông hoang vắng, lòng tôi bỗng chua xót. Tôi có tội gì đâu mà thánh thần hại tôi đến nỗi này. Theo Bảo Vệ Pháp Luật (Còn nữa)
Thánh vật ở sông Tô Lịch – Kỳ 2 Thấm thoát đã cuối năm, trời rét, chỉ còn anh em thân thiết với tôi là ở lại. Tôi cho đóng cọc thép sâu tới 4m rồi làm cữ thép chấm nước. Lạ thay, cứ bơm sạch bước, cữ lại vỡ. Lúc này một số báo chí nói tới những sự kỳ lạ xung quanh công trình sông Tô Lịch, đoạn qua làng An Phú này. Bảo tàng Hà Nội, Viện Tâm lý học, các nhà ngoại cảm cận tâm lý đã tổ chức các cuộc họp tại công trình nhưng họ không thể giải thích được. Phía các nhà sử học, khảo cổ học giải thích đây là di tích nằm trong quần thể chính của Tây thành Đại La (có thể là Ngọ Môn). Nhiều người còn yêu cầu khôi phục di tích này. Phía các nhà tâm lý học, dịch học nói đây là một trận đồ trấn yểm tà ma, không cho xâm phạm kinh thành. Vì là trận đồ cho nên giam giữ rất nhiều ma mãnh. Những bộ xương người mà tôi đào được có thể là xương người bị tế sống chôn lúc làm lễ trấn yểm. Cũng theo họ, tôi đã động đến trận đồ, phá hủy nó, giải thoát cho bao nhiêu tà ma nên nó ám vào, làm hại những người có mặt lúc đó. Mặt khác, thánh thần cũng oán giận việc làm của chúng tôi nên ra tay trừng phạt. Chuyện thánh thần ma quỷ không ai nhìn thấy nhưng những sự rủi ro mà chúng tôi phải chịu đựng thì quá đáng sợ. Có một hôm đóng cữ mới, bơm nước cạn chuẩn bị đào để kè bờ, chúng tôi phát hiện có thêm một cọc gỗ. Dùng máy xúc nhổ mãi không được, tôi giao nhiệm vụ cho anh Thúy (người Ninh Bình) xuống chặt cụt đi để lấy chỗ làm. Ngay đêm hôm đó, anh bị cảm nặng sốt cao, phải đưa vào bệnh viện. Nhưng kinh khủng hơn, sáng hôm sau gia đình anh điện lên nói mẹ anh bị tai nạn giao thông chấn thương sọ não. Đến chiều, gia đình lại tin lên đứa con anh Thúy đang học lớp 7 bước từ trên hè xuống sân ngã gãy xương đùi, mặc dù từ hè và sân chỉ chênh nhau 30cm. Đến sáng hôm sau, mẹ anh bị đứt mạch máu não. Đang sốt hừ hừ anh Thúy vùng dậy chạy vào đền làm lễ mới bỏ về. Sau này tôi mới biết nhà anh còn gặp nhiều chuyện không hay nữa, phải cúng lễ rất nhiều anh mới sống sót. Nhưng bỏ làm cũng không được. Đổ hết vốn liếng vào đây rồi bỏ đi thì không chỉ chết một mình mà còn chết cả nhà, cả họ. Xin nhắc là công ty VIC trúng thầu nhưng làm từng đoạn, các đoạn nhận khoán lại, phải tự bỏ tiền ra làm rồi thanh toán sau. Tôi báo cáo lãnh đạo công ty nhiều lần, báo chí cũng nói đến chuyện này nhưng ông Nguyễn Quang Hưng – giám đốc công ty – vẫn không quan tâm giúp đỡ. Ngược lại, ông còn nhạo báng chê trách chúng tôi không biết làm việc. Vì vốn liếng, tôi bàn với anh em thân tín quyết tâm làm đến cùng. May thay có ông Nguyễn Trường Tiểu – Chủ tịch Hội đồng Quản trị VIC – ủng hộ tôi rất nhiều trong công việc (hiện ông Tiểu làm phó tổng giám đốc công ty xây dựng Hà Nội). Được sự giúp đỡ của ông, tôi mời được thầy Mão, một thầy tứ phủ nổi tiếng, nhà ở Vĩnh Tuy – Hà Nội, đến làm lễ tại công trường. Nhiều lần tôi và ông Tiểu đến mời ông Mão. Và cuối cùng đến 6/2002 ông Mão nhận lời lập đàn tràng giải trận đồ bát quái cho tôi. Đàn lớn lắm, có đủ cờ phướn, hương án, lễ mặn, hoa quả có đủ. Trong danh sách chủ lễ có toàn bộ ban giám đốc công ty VIC nhưng ông Hưng không đến dự. Cũng lễ hai ngày, hai đêm, hàng trăm người đến xem ầm ĩ một khúc sông. Cúng xong, ông Mãi nói với tôi: “Cậu đào khúc sông này là cậu khổ rồi. Bây giờ cậu có thể làm xong việc nhưng nhà cậu sẽ gặp nhiều tai họa lớn. Cậu sẽ mất tất cả những gì quý giá nhất, anh em cậu sẽ tan gia, bại sản, gặp nhiều sự oan khuất. Làm lễ cho cậu, tôi sẽ bị trả giá. Mặc dù tôi không chết nhưng e rằng sẽ khó được như trước”. Ngay sau khi ông Mão lễ xong, chúng tôi cùng về đến nhà thì ông Mão ngất đi. Từ lúc đó, trong gần nửa tháng, người nhà đưa ông Mão đi khắp các bệnh viện, không bác sỹ nào biết ông mắc bệnh gì. Còn ông Mão thì lúc mê lúc tỉnh, lúc kêu khó chịu trong người, lúc lại kêu đau đầu. Cứ vậy, mãi sau ông Mão mới khỏi nhưng từ đó sức khỏe yếu đi hẳn. Trước đây, tôi không tin là thầy Thích Viên Thành chết vì tai họa sông Tô Lịch. Nhưngm từ khi chứng kiến ông Mão ốm, tôi tin rằng thầy Thích Viên Thành chết vì ma tà sông Tô Lịch thật. Nhưng lạ nhất, từ lúc lập đàn tráng lần thứ hai do ông Mão chủ lễ, công việc có vẻ suôn sẻ hơn, đập kè không bị sụt lở. Chúng tôi đã làm được gần 150m dài, túa1/3 đoạn sông tôi nhận. Đến đây tôi kiệt sức, vốn liếng vay mượn khắp nơi rồi mà không thể vay thêm được nữa. Tôi quyết định dừng công việc tại đây. Nhưng vào đúng ngày tôi hết sạch tiền, định cho anh em nghỉ việc, tự nhiên một anh công nhân lên cơn động kinh ngay tại công trường, miệng sùi bọt mép mất hoàn toàn ý thức. Lúc tan cơn co giật anh vẫn mê sảng mồm lảm nhảm “trả tao đây, trả tao đây”. Ngay hôm sau, tôi được tiếp một người quen mới từ Lào về – anh Tuấn, một cán bộ Ủy ban Dân tộc Trung ương. Năm trước, trong lúc chúng tôi đào trong trận bát quái, anh có đến thăm và chọn trong các đồ cổ xúc ở dưới sông lên, xin một cái bát hoa cúc đồi Lý Anh mang về bày ở trong nhà. Từ ngày ấy gia đình lục **c, làm ăn thất bại. Vừa rồi anh có đi công tác sang Lào, ông thầy cũng vừa nhìn thấy anh đã hốt hoảng: “Anh có cầm vật gì của người âm không?”. Anh trả lời: “Không có ạ”. Ông thầy cúng lắc đầu: “Anh phải nghĩ lại thật kỹ đi. Tôi thấy sau lưng anh có rất nhiều người âm đang đòi anh cái gì đấy, hình như là bát ăn cơm thì phải. Anh lấy của họ ở dưới sông làm họ không có bát ăn cơm. Anh phải trả họ ngay không thì gay go đấy”. Anh Tuấn nhớ lại cái bát sợ quá phải bỏ dở chuyến công tác, quay về Hà Nội sắm lễ vật làm lễ tạ tội và trả cái bát vào lòng sông đúng chỗ tôi đã múc lên. Hôm đó là ngày 24/7/2002. Ba ngày sau, bố đẻ tôi đột ngột ra đi và nhiều chuyện nữa xảy ra. Ngay đến hôm nay, gia đình tôi vẫn còn phải chịu nhiều chuyện oan khuất. Em gái tôi là Nguyễn Thị Bích Hợp, bán bảo hiểm cho PJICO chỉ bán cho Công ty Việt Thái Phong, không tham ô, tham nhũng đồng nào. Chỉ vì các ông giám đốc, phó giám đốc tham ô tiền tỷ mà em gái tôi phải ra tòa. Theo Bảo Vệ Pháp Luật (còn nữa)

Thánh vật ở sông Tô Lịch – Kỳ 3 Ông Nguyễn Hùng Cường kể trong suốt thời gian xảy ra chuyện ở đoạn sông Tô Lịch, hai ông Nguyễn Quang Hưng (Giám đốc Công ty VIC) và ông Nguyễn Trọng Doanh (giám đốc dự án) lúc nào cũng tỏ vẻ không tin và không hề có sự giúp đỡ nào, thậm trí còn nhạo báng và gây thêm khó khăn cho công việc thi công của tôi. Và cũng thật đáng sợ, chỉ hai ngày, sau khi tôi an táng toàn bộ tám bộ hài cốt ở nghĩa trang Bất Bạt, trong chuyến công tác ở Quảng Ninh, xe ô tô chở ông Hưng cùng một số cán bộ bị tai nạn. Chiếc xe Toyota bị hỏng hoàn toàn. Ông Hưng bị chấn thương nặng, gãy ba chiếc xương sườn, nhiều cán bộ đi cùng cũng bị vạ lây. Sau đó, khoảng một tháng, văn phòng ban quản lý dự án, do ông Nguyễn Trọng Doanh trực tiếp phụ trách đặt tại Yên Sở (Hà Nội), bỗng bốc cháy dữ dội. Ngôi nhà hai tầng đặt văn phòng dự án và một số công ty tham gia thi công dự án bị thiêu rụi hoàn toàn. Sau khi làm xong 150m trên chiều dài 360m, tôi nhận thi công, do sức cùng lực kiệt, tiền vốn không còn, tôi xin thanh lý hợp đồng. Công ty VIC thanh lý hợp đồng mà không hỗ trợ lấy một xu nhỏ. Tôi bị lỗ 500 triệu đồng vì công trình này. Quay trở về Nghệ An, tôi đi cầu khấn ở mọi nơi, nơi nào cũng báo tôi đang bị đại nạn. Cũng nói thêm, khi thi công công trình, ngoài số cổ vật moi ở trong trận đồ bát quái tôi đã nộp cho Bảo tàng Hà Nội, các công nhân có moi được lên nhiều bát đĩa, cốc chén cổ trong đó có một chiếc tước màu đen mà nói như GS Trần Quốc Vượng, đó là một cổ vật quý hiếm. Khi về đến Nghệ An, do hết tiền, tôi định bán chiếc tước đó. Khách mua từ Hà Nội vào, sau một ngày trả giá, thỏa thuận mua chiếc tước ấy với giá 10.000 USD. Thỏa thuận xong, khách quay lại khách sạn lấy tiền để trả tôi, trong lúc đó chiếc tước vẫn để trên mặt bàn. Khách mang tiền đến, chưa kịp đếm tiền thì chiếc tước không ai **ng tay vào tự nhiên vỡ đôi, vỡ vụn. Khách co giò bỏ chạy. Ngay sau đó, tôi cũng sợ hãi quá nên mang nốt mấy cái đồ cổ còn lại ra Hà Nội gặp GS Trần Quốc Vượng và cho ông hết. GS Quốc Vượng lúc đó vừa lấy vợ mới, đang rất vui vẻ. Ông cứ cười tôi về sự yếu bóng vía. Ông giải thích đồ ngâm lâu dưới nước, khi đưa ra ngoài không khí nước bốc hơi là cho gốm bở ra rất dễ vỡ, nhấc lên nhấc xuống nó sẽ tự nứt vỡ. Tôi không ngờ đó là lần gặp gỡ cuối cùng của tôi với GS Vượng vì, chỉ ít lâu, ông mất đột ngột. Tôi cũng nhớ ông có xin mấy món đồ lúc ông đến công trình. Đã bốn năm qua, tôi từ một tỷ phú, trước khi làm công trình kè sông, trở thành một kẻ tay trắng, phải phiêu bạt lên biên cương, sang cả Lào để kiếm ăn. Có lúc tôi tưởng như không còn mái nhà, không còn gia đình để về. Năm 2006, ông anh trai thứ hai của tôi, người tham gia công trình cùng tôi, gây tai nạn giao thông làm chết người và vướng vào vòng lao lý. Ông anh thứ ba, người cho tôi vay tiền để làm kè sông Tô Lịch, sau đó gặp nhiều rủi ro, phá sản toàn bộ. Cô em gái tôi, Nguyễn Thị Bích Hợp, công tác tại Sài Gòn đang vướng phải oan khuất. Chỉ vì lòng tận tâm tận lực với công ty PJICO, em tôi phải ra tòa. Cô em tôi đi xin lễ nhiều nơi, các thầy đều nói hạn của em tôi bắt đầu từ đại hạn của gia đình tôi từ năm Tân Tỵ 2001, năm tôi phạm phải trận đồ trấn yểm Đại La trên sông Tô Lịch. Cũng có thể toàn bộ chuyện này ngẫu nhiên mà rơi xuống số phận tôi, hoàn toàn không có yếu tố tâm linh. Chỉ biết rằng, theo cố GS Trần Quốc Vượng, địa điểm mà tôi thi công là điểm giao hòa của ba con sông cổ sông Tô Lịch, sông Thiên Phù và sông Nhuệ. Do vậy, cấu tạo địa chất rất phức tạp và hình thành những vực sâu và rồi những vực sâu cũng được bồi lấp bởi mọi thứ từng trôi nổi trong ba dòng chảy của con sông chính. Vì vậy việc thi công rất khó khăn. Nhưng cũng có thầy địa lý nói đây là điểm giao hòa và là một huyệt phong thủy rất quan trọng. Vì vậy một thế lực nào đó lập trận đồ trấn yểm để huyệt này không phát được. Theo Bảo Vệ Pháp Luật
Thánh vật ở sông Tô Lịch – Kỳ 4 Vào năm 1986, tôi mới là một thanh niên trẻ của làng An Phú – lúc đó thuộc thị trấn Nghĩa Đô của huyện Từ Liêm – bên sông Tô Lịch. Ở ngay bên bờ sông có miếu Đôi Cô, nay là đền Quán Đôi, đối diện khu đất sau này đội thi công 12 thuộc Công ty VIC đào phải trận đồ trấn yểm, gây ra bao chuyện kỳ lạ cũng như bất hạnh cho nhiều người. Do liên quan đến nhiều người còn sống nên cho tôi xin được giấu tên thật của họ. Vào năm đó – 1986 – tôi được làng chọn làm dân phòng, là nhân viên an ninh tự nguyện để phối hợp với công an bảo vệ trật tự an ninh xóm làng. Khi đó, miếu Đôi Cô chỉ là một ngôi miếu nhỏ gồm một gian nhà xây, lớp ngói một mái. Trước cửa miếu có cây đa khá xanh tốt. Trong miếu, trên bệ thờ chỉ có mấy tượng thờ (hình như là tượng Cô) và mấy bát hương cũng rất nhỏ. Miếu nhỏ nhưng có nhiều người đến lễ vào những ngày sóc vọng (mồng một, ngày rằm). Ở đó thường có một ông thầy Tứ Phủ từ thôn Vòng (Dịch Vọng Hậu) đến chủ trì lễ bái, gọi hồn, ốp đồng. Chính quyền thị trấn, vào những năm đó, do bà Nguyễn Thị Sang làm chủ tịch UBND. Ông N.L là phó chủ tịch UBND. Ông M.G làm bí thư đảng ủy xã. Trong phong trào chống mê tín dị đoan, bảo vệ trật tự an ninh cơ sở, miếu Đôi Cô được UBND và công an thị trấn coi là một điểm đen cần được giải tỏa. Công an thị trấn Nghĩa Đô và dân phòng thôn An Phú quyết tâm bắt quả tang một vụ hầu đồng để giải tỏa cả miếu Đôi Cô này. Nghe cơ sở báo tối ngày rằm tháng 10/1986 có một vụ lên đồng tại miếu Đôi Cô, anh Chung – công an khu vực thôn An Phú, cùng ông N.L dẫn các dân phòng phục sẵn gần miếu. Nghe thấy lầm rầm có tiếng “lạy cô, lạy cô”, từ bốn phía anh em ập vào bắt quả tang hơn 10 bà cùng ông thầy tứ phủ đang lên đồng. Chúng tôi thu hết lễ vật, đưa toàn bộ những người này lên trụ sở UBND. Ông N.L còn ra lệnh thu hết đồ thờ cúng mang lên trụ sở UBND. Chúng tôi thu hết tất cả bát hướng, tượng thờ, cả rắn thờ, nón thờ mang lên để ở góc phòng UBND. Theo đúng luật lệ, thầy tứ phủ và các bà tham gia lên đồng bị phạt hành chính rồi được thả về. Còn lại một đống lễ vật và cả đồ áo mũ để lên đồng, cả miếng khăn phủ diện màu đỏ, chất ở góc phòng không biết xử lý ra sao. Ông N.L đề nghị anh Chung – công an – xin ý kiến, ông M.G đến xem sau đó phán một câu xanh rờn: “Các cậu ném hết xuống sông Tô Lịch cho tôi”. Sau này tôi nghĩ có lẽ ông M.G cũng không chủ định như vậy nhưng lúc đó, do hứng chí, ông phán như vậy. Tôi bàn với anh Chung nên xem xét lại, đừng ném đồ thờ xuống sông. Sau đó ông N.L và anh Chung quyết định xuống chùa Bái Ân (thôn Bái Ân), lúc đó cũng thuộc địa phận thị trấn Nghĩa Đô, mời sư thầy Đàm Thanh xuống UBND nhận đồ thờ cúng mang về cất ở chùa. Ngay sau đó, sư thầy Đàm Thanh lên nhận hết đồ, chở bằng xe đạp về chùa Bái Ân. Hiện nay các ông có tên trên vẫn sống. Anh Chung nay là thiếu ta công an tại Đội 113, công an quận Cầu Giấy. Sư thầy Đàm Thanh vẫn trụ trì chùa Bái Ân. Sự việc bắt giữ và thu đồ thờ của miếu Đôi Cô cũng qua đi bởi, ngay sau đó, những người đến đến thời cúng tại miếu lại sắm đủ đồ thờ và mọi việc lễ lạy lại y như cũ. Chỉ có chúng tôi thấy mọi sự không yên được. Đêm nằm thường hay mộng mỵ những chuyện ma quái. Thêm nữa, ngay trong những người tham gia vụ bắt giữ đồ thờ cúng đã xảy ra nhiều chuyện mâu thuẫn. Rồi dần dần những việc lớn xảy ra.

Đánh giá 3.15 ( 3 votes)
Download Ebook sách - truyện Bằng chứng về hồn ma có tồn tại về máyDownload sách - truyện Bằng chứng về hồn ma có tồn tại file .pdf .docĐọc sách - truyện Bằng chứng về hồn ma có tồn tại trực tuyếnTải Ebook sách - truyện Bằng chứng về hồn ma có tồn tại miễn phí

Để lại bình luận